Thuật ngữ Viễn thông
Cần được dùng thống nhất theo khái niệm (Phần 4)
TS. Đỗ Kim Bằng
KS. Nguyễn Thanh Việt
SỬ DỤNG CÁC TỪ HANDOVER, HANDOFF VÀ ROAMING NHƯ THẾ NÀO?
Handover: Chuyển giao, bàn giao
Handover được sử dụng phổ biến trong ngôn ngữ thông thường và trong kỹ thuật, và có nghĩa thống nhất là chuyển giao, bàn giao cái gì đó cho ai…, ví dụ to hand-over the command to… (trao quyền chỉ huy lại cho ai).
Handoff:
Không được dùng trong ngôn ngữ thông thường mà chỉ được sử dụng trong kỹ thuật, đặc biệt là trong thông tin di động. Nó được định nghĩa như sau:
Handoff:
Một quá trình chuyển mạch tự động giữa các kênh khi một máy di động của mạng tế bào di chuyển từ tế bào này sang tế bào khác. Tại ranh giới giữa các tế bào (hay các sector), trong khi truyền thông tiếng nói, cường độ tín hiệu của máy di động đươc giám sát liên tục; khi cường độ tín hiệu (Chỉ thị RSSI) giảm xuống một giới hạn thấp hơn nào đó so với quy định thì các trạm tại các tế bào lân cận được lệnh giám sát cuộc gọi này. Khi đó cuộc gọi này được handed off sang trạm thu được tín hiệu cao nhất có thể chấp nhận được. Thông tin báo hiệu được gửi tới thiết bị thuê bao tạo điều kiện cho nó chuyển sang một tần số do trạm đang được đảm trách cuộc gọi lựa chọn. Đó là một quá trình handoff (chuyển giao, bàn giao) giữa các tế bào (ô).
Trong rất nhiều các tài liệu, sách báo trước đây người ta đã sử dụng thuật ngữ handoff là chuyển vùng. Dùng như vậy cũng đúng vì đối với thuê bao, nó chuyển từ vùng của trạm gốc này sang vùng của trạm gốc khác (còn đối với MTS (MTSO), theo các thủ tục xử lý cuộc gọi di động, thì MTSO đã chuyển giao hay bàn giao cuộc gọi). Tuy nhiên, nếu dùng chuyển vùng thì sẽ bị lẫn với khái niệm roaming (chuyển vùng) sẽ nói đến dưới đây.
Roaming
Trong ngôn ngữ thông thường, động từ roam có nghĩa chính là đi lang thang, đi khắp nơi, trong kỹ thuật thông tin di động đã thống nhất dùng là chuyển vùng. Có những từ điển định nghĩa một cách đơn giản là:
Roaming: Trong truyền thông, một khả năng để các nhà du lịch có thể mang theo máy điện thoại của họ khi lên đường. Hay:
Roaming: Khả năng di chuyển từ vùng của mạng tế bào này sang mạng tế bào tiếp sau mà không bị mất liên lạc.
Có định nghĩa tỉ mỉ như thể này:
Roaming: Khi một máy điện thoại của mạng tế bào hay mạng PCS (Personal Communications Service) di chuyển ra bên ngoài vùng dịch vụ “thường trú” của nó (mạng mà nó đăng ký dịch vụ từ đầu), thì đó là roaming (chuyển vùng). Khi thuê bao đó chuyển vùng, nó liên tục gửi đi một tín hiệu để báo cho bất kỳ điểm tế bào nào mà nó có thể vươn tới (bất kể của nhà khai thác nào) rằng “tôi ở đây”. Nếu nó có thể liên lạc được với một điểm tế bào nào đó, thì bộ chỉ thị chuyển vùng sẽ được hiển thị trên máy điện thoại của bạn. Nếu bạn có dịch vụ chuyển vùng với công ty điện thoại tế bào hay PCS của bạn thì bạn vẫn nhận được các cuộc gọi ngay cả khi bạn ở bên ngoài vùng gọi của bạn. Nếu bạn không trả phụ phí cho dịch vụ chuyển vùng thì bạn vẫn có thể gọi đi, tuy nhiên các cuộc gọi đó tính thêm tiền.
Có roaming quốc gia và roaming quốc tế. Do công nghệ ngày càng hiện đại cho nên cơ chế chuyển vùng đã đơn giản hơn nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho các thuê bao tạm trú (roamer).
Việc sử dụng thuật ngữ “chuyển vùng” để chỉ roaming gần như đã hoàn toàn được chấp nhận và thống nhất, trừ một số tác giả dùng nguyên gốc tiếng Anh “roaming”. Thuật ngữ “chuyển giao”, “bàn giao” dùng cho handover cũng đã được dùng thống nhất. Riêng handoff vẫn được đặt tên rất khác nhau: chuyển vùng, cắt chuyển, chuyển giao, chuyển vị, chuyển ô, bàn giao v.v… Ngay trong một cuốn sách (in năm 2007), phần đầu các tác giả dùng handoff là chuyển giao (chuyển giao cứng – HHO), chuyển giao mềm (MHO), chuyển giao phân tập macro (MDHO) v.v…, cuối sách cũng các thuật ngữ đó lại gọi là chuyển vùng (chuyển vùng cứng – HHO, chuyển vùng mềm – MHO), chuyển vùng phân tập macro – MDHO).
Theo những định nghĩa và phân tích ở trên, chúng ta nên dùng handoff là chuyển giao hoặc bàn giao, tuyệt đối không nên dùng chuyển vùng vì nó lẫn với khái niệm roaming./.