Sơ đồ Website
English 

 Xem theo số báo
Tháng Số mới nhất 
 

 Liên kết
Bộ BCVT (MPT)
Chính phủ

 Tìm kiếm

 

998634

Trang nhất > Hỏi - Đáp
Thuật ngữ viễn thông cần được dùng thống nhất theo khái niệm (Phần 5)
3:51, 01/11/2007


 

 

TS. Đỗ Kim Bằng

KS. Nguyễn Thanh Việt

 

Thuê bao di động có thể đăng ký dịch vụ của nhà khai thác A và có thể gọi tới máy của nhà khai thác B mà không có khó khăn gì. Thế những về mặt kỹ thuật, hệ thống đã phải giải quyết cơ chế chuyển vùng rất phức tạp với các khái niệm như HLR, VLR… Vậy nên đặt tên cho các thuật ngữ này như thế nào?

 

HLR (Home Location Register)

VLR (Visitor Location Register)

 

Chuyển vùng (Roaming) là việc sử dụng dịch vụ mạng tế bào bên ngoài vùng dịch vụ (home). Nói một cách khác, các khách hàng mạng tế bào ở trạng thái chuyển vùng khi họ sử dụng các máy di động của mình bên ngoài vùng, nơi mà họ đã “mua” dịch vụ vô tuyến từ đầu. Mỗi công ty thông tin di động xác định một vùng dịch vụ “home” (Home service area) riêng của mình dựa trên thị trường cụ thể mà họ đang khai thác. Trong mỗi thị trường, một công ty có thể cố gắng duy trì một vùng phủ sóng lớn hơn cho home area của mình để cạnh tranh với các nhà khai thác khác. Việc chuyển vùng của các thuê bao giữa các mạng là quy định của GSM.

 

Khi một máy di động lần đầu tiên mở máy trong một “foreign PLMN” (Public Land Mobile Network) thì MSC/VLR (Mobile Switching Center/Visitor Location Register) sẽ xác định danh tính (identity) của “home PLMN” qua mã của mạng di động, mã này là một phần của IMSI (số cá nhân liên quan máy cầm tay của người dùng PCN và được phát hành trong SIM).

 

Home HLR” sẽ được chất vấn để xác nhận liệu chuyển vùng có được phép hay không và để chứng thực. Khi đó, “Home HLR” sẽ chuyển các số liệu thuê bao tới foreign VLR cục bộ này và đăng ký vị trí foreign của máy di động. Khi đó các cuộc gọi tới và từ máy di động chuyển vùng có thể được tiến hành.

 

Khi máy di động đăng ký vào hệ thống này, tổng đài nhận được các thông tin thue bao từ home switch của khách hàng (qua một mạng SS7), và tất cả các thông tin liên quan đến thuê bao chuyển vùng ấy được lưu trữ trong VLR.

 

Nghiên cứu cơ chế trên đây cũng như các định nghĩa về khái niệm các thuật ngữ, người ta thấy cơ chế đó giống như trong đăng ký hộ khẩu thông thường. Nếu vậy “home” có thể dùng là “thường trú”, “visitor” là “tạm trú”. Như vậy”:

 

-     home area: vùng thường trú;

-     home service area: vùng dịch vụ thường trú;

-     home PLMN: Mạng PLMN thường trú

-     HLR: Bộ đăng ký vị trí thường trú

-     Foreign PLMN: Mạng PLMN tạm trú

-     VLR: Bộ đăng ký vị trí tạm trú.

-     Foreign VLR: VLR của mạng tạm trú.

 

Ví dụ: Khi một thuê bao đang chuyển vùng sang thị trường của mạng tế bào láng giềng mở máy, máy điện thoại sẽ đăng ký với mạng này và các thông tin về thuê bao được lưu trữ trong bộ đăng ký vị trí tạm trú (VLR) của MTSO thuộc mạng náy. Việc đăng ký của máy di động sau đó được định tuyến qua một mạng báo hiệu SS7 hoặc IS-41 tới tổng đài thường trú của thuê bao. HLR của tổng đài thường trú chứng thực rằng khách hàng là hợp pháp và gửi một tin báo ngược trở lại qua kết nối báo hiệu này tới tổng đài của người tạm trú răng thuê bao này hợp lệ. Khi đó, VLR được cập nhật để chỉ thị rằng người tạm trú (chuyển vùng) là hợp lệ. Việc xử lý cuộc gọi sẽ được thực hiện một cách bình thường nếu người tạm trú tiến hành cuộc gọi.

 

Như vậy, trong hoạt động chuyển vùng có dùng các thuật ngữ HLR và VLR. Những thuật ngữ này chưa thấy có trong các từ điển kỹ thuật, trong các tài liệu tiếng Việt, kể cả các thuyết minh hướng dẫn sử dụng của các công ty điện thoại di động, đều để nguyên gốc tiếng Anh, mà chưa chuyển thành tiếng Việt. Ta hãy xem các định nghĩa của các thuật ngữ này.

 

HLR (Home Location Register): Cơ sở dữ liệu chứa các thông tin của thuê bao trong thông tin di động.

 

Home Location Gegister (HLR) là một cơ sở dữ liệu (database) có mặt (thường trú) trong mọi tổng đài của mạng tế bào. Mục đích của nó là đóng vai trò một cơ sở dữ liệu để lưu trữ thông tin về danh tính (identity) của các khách hàng hợp lệ trong home area của tổng đài. Một khách hàng “hợp lệ” của người đã thanh toán các hóa đơn tính cước đúng thời hạn và MIN/ESN (Mobile Identification Number/Electronic Serial Number) của người đó chưa bị tuyên bố là bất hợp pháp do gian lận.

 

VLR (Visitor Location Register): Cơ sở dữ liệu liên quan đến một MCS trong một hệ thống vô tuyến di động, chứa thông tin của các người dùng hiện tại của nó.

 

Hay định nghĩa cụ thể hơn:

Visitorr Location Register (VLR) là một cơ sở dữ liệu cũng nằm trong mọi tổng đài mạng di động. Mục đích của nó là cung cấp một cơ sở dữ liệu lưu trữ liên quan đến nhân dạng (danh tính) của các khách hàng chuyển vùng hợp lệ trong một home area của tổng đài. Một khi máy di động mở máy (bật nguồn) trong một hệ thống không phải của mình (từ là chuyển vùng), thì ngay tức khắc nó thực hiện việc đăng ký di độn

 

Email bài này | Liên hệ | In bài này  
Các bài mới:
     Dịch vụ Viễn thông: Các bên tham gia cung cấp và sử dụng dịch vụ viễn thông (16/09)
     Tiếng Anh chuyên ngành: UNIT 5 - Mainframes (16/09)
     Tiếng Anh chuyên ngành: UNIT 4: Computer capabilities and limitations (25/09)
     Dịch vụ Viễn thông: Các bên tham gia cung cấp và sử dụng dịch vụ (25/09)
     Một số lỗi thường gặp ở hệ thống tổng đài điện tử số DTS-VX và cách khắc phục (30/09)
     Tiếng Anh chuyên ngành: UNIT 3: Characteristics of the computer (30/09)
     Channel service unit (CSU) & Channel banks (30/09)
Các bài đã đăng:
     Một số kinh nghiệm giúp giảm thiểu thời gian lắp đặt ADSL (18/12)
     Ứng dụng hiện tại ở Việt Nam và xu thế phát triển của cáp quang của ngành viễn thông Việt Nam (01/03)
     HDSL là gì? Đề nghị Tạp chí cho biết nguyên lý làm việc và đặc điểm của HDSL (30/01)

Các tin khác 

 

 
Ý kiến của bạn
Tên của bạn:
Email:
Tiêu đề:
Tắt bộ gõ Tự động Telex VNI VIQR

© Bản quyền thuộc Tạp chí Công nghệ thông tin & Truyền thông
Địa chỉ: 57A Huỳnh Thúc Kháng, Hà Nội.  Điện thoại: (04)7737136.   Fax: (04)7737130.   Email: tapchibcvt@mic.gov.vn
Cơ quan chủ quản: Bộ Thông tin và Truyền thông. Tổng biên tập: TS. Chu Văn Vệ.
Giấp phép số 56/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá, Thông tin cấp ngày 14/03/2006.