Sơ đồ Website
English 

 Xem theo số báo
Tháng Số mới nhất 
 

 Liên kết
Bộ BCVT (MPT)
Chính phủ

 Tìm kiếm

 

545593

Trang nhất > Kinh tế
Đặc trưng của các Tập đoàn kinh tế Việt Nam và kiểm soát tài chính trong các tập đoàn kinh tế Việt Nam
2:55, 20/07/2009


ThS. Hoàng Thị Tuyết

 

Tập đoàn kinh tế là một cơ cấu sở hữu được tổ chức thành hệ thống với quy mô lớn, vừa có chức năng sản xuất - kinh doanh (SXKD), vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường khả năng tích tụ, tập trung cao nhất các nguồn lực (tài chính, lao động, công nghệ...) để có sức mạnh cạnh tranh trên thị trường nhằm tối đa hoá lợi nhuận thông qua hoạt động trên nhiều ngành, nhiều lĩnh vực ở nhiều vùng lãnh thổ khác nhau.

 

Sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng của Việt Nam đòi hỏi nền kinh tế Việt Nam phải có những tập đoàn kinh tế mạnh, giữ vai trò chủ đạo và điều tiết một số lĩnh vực quan trọng trong nền kinh tế để hạn chế sự thao túng và chi phối của nhiều công ty đa quốc gia và các tập đoàn kinh tế tư bản quốc tế xâm nhập vào Việt Nam khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO).

 

Đồng thời, Tập đoàn kinh tế đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm nay  nhưng lại khá mới mẻ so với Việt Nam vì các tập đoàn kinh tế Việt Nam thực sự mới chỉ đang ở những bước khởi động đầu tiên của sự vận hành với chủ trương nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp (DN) Nhà nước, trong đó có các Tổng công ty Nhà nước bằng việc thực hiện chuyển đổi hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh tế. Đến nay, đã có nhiều tập đoàn kinh tế đã được hình thành từ một số Tổng công ty mạnh như Dệt may, Than - Khoáng sản; Bưu chính viễn thông, Công nghiệp tàu thuỷ, Điện lực, Bảo Việt, Công nghiệp Cao su,...

 

Tập đoàn kinh tế theo mô hình công ty mẹ - công ty con là hình thức tập đoàn kinh tế phổ biến hiện nay được hình thành từ sự liên kết các DN trên cơ sở các quan hệ về đầu tư tài chính, chi phối và gắn kết với nhau về thương hiệu, thị trường. Tuy nhiên các tập đoàn kinh tế Việt Nam được hình thành trong một nền kinh tế đang chuyển đổi sang cơ chế thị trường do đó các các tập đoàn mang nhiều đặc trưng khác biệt với những tập đoàn kinh tế tư bản nước ngoài đã ra đời, tồn tại và phát triển hàng trăm năm trong nền kinh tế thị trường.

 

NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ VIỆT NAM

Được hình thành chủ yếu từ việc chuyển đổi và tổ chức lại các Tổng công ty Nhà nước theo quyết định của Chính phủ

Khác với sự hình thành của các tập đoàn kinh tế tư bản nước ngoài (được hình thành trên cơ sở sáp nhập, mua bán, đầu tư vốn giữa các DN), sự hình thành của hầu hết các tập đoàn kinh tế Việt Nam theo mô hình Công ty mẹ - con là kết quả và là giải pháp để thực hiện chủ trương đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các DN Nhà nước mà cụ thể hơn là các Tổng công ty Nhà nước của Chính phủ. Hiện nay đã có 8 tập đoàn kinh tế được hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con được thành lập từ kết quả của sự chuyển đổi, sắp xếp lại các Tổng công ty Nhà nước.

 

Đang hoạt động trong những ngành kinh tế mũi nhọn, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, là một trong những công cụ điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ

Hầu hết các tập đoàn này đều hoạt động trong các ngành kinh tế trọng điểm của quốc gia như: điện lực, dầu khí, bưu chính viễn thông, than và khoáng sản,... bởi vì đây là các ngành, lĩnh vực mà tư nhân và các thành phần kinh tế khác không muốn đầu tư hoặc khó thể thực hiện được do hạn chế về năng lực tài chính hoặc kinh nghiệm quản lý. Do đó, hoạt động của các tập đoàn này không chỉ tác động và đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hội mà còn là một trong những công cụ điều tiết hiệu quả kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Việc điều hành các tập đoàn kinh tế  cùng tham gia vào việc kìm chế lạm phát trong năm 2008 là một minh chứng sinh động. Đây có lẽ là đặc trưng rất cơ bản và rõ nét nhất của các tập đoàn kinh tế Việt Nam hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con so với các tập đoàn tư bản nước ngoài và các tập đoàn kinh tế tư nhân.

 

Quy mô và khả năng tích tụ vốn của các Tập đoàn kinh tế Việt Nam còn hạn chế, phạm vi hoạt động nhỏ hẹp

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy tập đoàn chỉ được hình thành và có điều kiện phát triển khi đã đạt tới trình độ nhất định về khả năng tích tụ và tập trung vốn, tài sản và quá trình tập trung hoá về SXKD, tích tụ, tập trung vốn và tài sản của các Tổng công ty 91 được chuyển đổi thành các tập đoàn kinh tế (Điện lực, Bưu chính viễn thông, Than,...) tuy có trình độ cao hơn và quy mô lớn hơn so với các Tổng công ty khác nhưng vẫn được đánh giá là chậm và yếu so với các nước trong khu vực và chưa tương xứng với yêu cầu hình thành các tập đoàn kinh tế. Chẳng hạn so sánh với quốc gia láng giềng, có điều kiện và con đường hình thành tập đoàn kinh tế giống Việt Nam là Trung Quốc, thì thấy rằng Trung Quốc có 503 tập đoàn nhà nước có công ty mẹ là xí nghiệp quốc hữu, đã có tới 3 tập đoàn trong danh sách 500 tập đoàn lớn nhất thế giới về vốn và doanh thu, tài sản trung bình của một tập đoàn kinh tế là 12,4 tỷ nhân dân tệ, tương đương khoảng 24.800 tỷ đồng Việt Nam. Trong khi đó tại Việt Nam chỉ có 3 Tổng công ty là Tổng công ty Điện lực, Tổng công ty Dầu khí và Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam là có tổng tài sản vượt mức trung bình này của Trung Quốc. Nếu so với quy mô vốn các một số tập đoàn của một số nước trong khu vực và trên thế giới thì các tập đoàn kinh tế nước ta có số vốn còn quá khiêm tốn. Đồng thời, trong khi phạm vi hoạt động của các tập đoàn kinh tế khác hầu như dàn trải khắp toàn cầu, các khu vực kinh tế thì phạm vi các hoạt động của các tập đoàn kinh tế giới hạn trong lãnh thổ Việt Nam, mặc dù có một số tập đoàn đã thực hiện đầu tư hoặc xuất khẩu ra nước ngoài nhưng tỷ trọng còn nhỏ bé.

 

Hợp tác và liên kết kinh doanh giữa các đơn vị trong Tập đoàn kinh tế chưa cao, chưa thể hiện được bản chất kinh tế của Tập đoàn kinh tế

Bản chất các tập đoàn kinh tế Việt Nam là các tổng công ty Nhà nước thực hiện chuyển đổi trong đó liên kết trong các Tổng công ty chuyển đổi sang tập đoàn kinh tế chưa phù hợp với liên kết trong tập đoàn kinh tế. Trong các tổng công ty quan hệ giữa các đơn vị thành viên hầu hết là mang tính hành chính, sự chi phối của tổng công ty đối với đơn vị thành viên cũng vẫn mang tính hành chính mà chưa thực sự dựa trên cơ sở quan hệ lợi ích kinh tế và tự nguyện theo nguyên tắc thị trường. Sự điều hành, chi phối  của tổng công ty đối với các đơn vị thành viên không hiệu quả, ví dụ, các tổng công ty hầu như chưa thực hiện được chức năng điều hoà vốn hợp lý giữa các đơn vị thành viên: tập trung vốn nhàn rỗi của các DN thành viên thừa vốn cho các đơn vị thành viên thiếu vốn vay,... Đồng thời, quan hệ về đầu tư vốn và tài chính, thị trường, phân công chuyên môn hoá, nghiên cứu và phát triển giữa các đơn vị thành viên trong tổng công ty chưa thực sự chặt chẽ và rõ nét đặc trưng quan hệ giữa các DN thành viên trong tập đoàn kinh tế.

 

Trình độ tổ chức quản lý - đặc biệt là quản lý tài chính còn hạn chế để đáp ứng yêu cầu quản lý đối với tập đoàn kinh tế

Trong các tổng công ty Nhà nước- đơn vị tiền thân của các tập đoàn kinh tế Việt Nam do chưa thực hiện phân tách rõ ràng giữa quyền sở hữu hoặc đại diện sở hữu và quyền điều hành DN do đó chưa có sự chuyên môn hoá và chuyên sâu trong công tác quản lý.

 

KIỂM SOÁT TÀI CHÍNH TRONG MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

Chuyển đổi sang mô hình mới với những đặc trưng trên các Tập đoàn kinh tế Việt Nam chưa thể hoàn thiện như các tập đoàn kinh tế tư bản nước ngoài, nhưng chắc chắn cũng phải thể hiện được bản chất của tập đoàn kinh tế là các mối quan hệ giữa Công ty mẹ - công ty con phải là mối quan hệ đầu tư vốn, theo đó  phương thức quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính của các tập đoàn cũng phải thay đổi. Đó là các tập đoàn kinh tế Việt Nam cần quản lý các công ty con thông qua kiểm soát tài chính.

 

Trên quan điểm cho rằng kiểm soát tài chính là khả năng và hoạt động của một chủ thể (chủ thể kiểm soát) chi phối, định hướng đối với việc ra quyết định về các chính sách tài chính và hoạt động của một chủ thể khác nhằm đạt được mục tiêu của chủ thể kiểm soát thì trong tập đoàn kinh tế, kiếm soát tài chính là hoạt động chi phối, định hướng của công ty mẹ đối với việc ra quyết định về các chính sách tài chính và hoạt động của các công ty con  nhằm đạt được mục tiêu phát triển của Tập đoàn.

 

Như vậy, kiểm soát tài chính là công cụ quan trọng để thực hiện mục tiêu quản lý của Công ty mẹ đối với các công ty con trong mối quan hệ đầu tư vốn. Vai trò quan trọng của kiểm soát tài chính trong tập đoàn kinh tế được thể hiện trên các khía cạnh sau:

 

Kiểm soát tài chính là công cụ để các chủ sở hữu, các nhà đầu tư quản lý, giám sát hiệu quả vốn đầu tư

 

Hội đồng quản trị (HĐQT) tập đoàn là đại diện chủ sở hữu của tập đoàn, đại diện cho các chủ sở hữu là các cổ đông thực hiện đầu tư vốn vào tập đoàn nhưng những chủ thể này không tham gia vào việc điều hành và giám sát các hoạt động hàng ngày của tập đoàn mà công việc này là của Ban giám đốc. Trong ban giám đốc điều hành tập đoàn có thể có thành viên HĐQT nhưng cũng có thể là những người “làm công ăn lương” do HĐQT thuê để điều hành hoạt động của tập đoàn. Như vậy trong tập đoàn kinh tế quyền sở hữu và quyền điều hành có sự tách biệt nhất định. Chủ thể sở hữu, chủ thể đầu tư vốn không tham gia vào điều hành các công ty mà chỉ quyết định đầu tư vốn và thực hiện quản lý vốn đầu tư của mình thông qua việc thực hiện quyền kiểm soát tài chính của mình. Do đó, các nhà đầu tư và các chủ sở hữu sử dụng kiểm soát tài chính như một công cụ để thực hiện quản lý vốn đầu tư và đánh giá hiệu quả vốn đầu tư của mình.

 

Kiểm soát tài chính bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể sở hữu vốn tham gia đầu tư vào tập đoàn, bảo đảm quyền lợi của các cổ đông, hạn chế rủi ro cho các khoản đầu tư

Tập đoàn là một cơ cấu sở hữu, tổ chức và kinh doanh đa dạng với sự tham gia của nhiều chủ thể có thể thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Kiểm soát tài chính là công cụ để các chủ sở hữu vốn đã đầu tư vào tập đoàn không chỉ giám sát hiệu quả của vốn đầu tư mà kiểm soát tài chính thông qua các chính sách phân phối lợi ích trong nội bộ tập đoàn một cách khoa học và hợp lý căn cứ vào mức đầu tư của các chủ thể sẽ bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể góp vốn, chủ thể đầu tư sẽ đảm bảo và tăng cường sức mạnh và phát huy sức mạnh của tập đoàn. Việc phân phối lợi ích trong tập đoàn bao gồm cả việc phân phối nguồn lực và lợi nhuận phát sinh.

 

Kiểm soát tài chính là công cụ đánh giá mức độ phù hợp của các mục tiêu, quyết định và chính sách của HĐQT trong điều hành Tập đoàn kinh tế

HĐQT Tập đoàn kinh tế - đại diện của các chủ sở hữu vốn của Tập đoàn thực hiện điều hành Tập đoàn kinh tế thông qua kiểm soát tài chính. Kiểm soát tài chính là công cụ  đo lường mức độ chính xác, đánh giá sự phù hợp của các quyết định, các mục tiêu chiến lược, chiến thuật đã được hoạch định của HĐQT Tập đoàn. Đồng thời, thông qua kiểm soát tài chính, HĐQT - đại diện của các chủ thể sở hữu vốn có được hệ thống thông tin đầy đủ, cập nhật giúp HĐQT đánh giá được kết quả đã đạt được, duy trì các hoạt động đang tiến hành, phát hiện nguyên nhân sai sót từ đó điều chỉnh phù hợp và có căn cứ hoạch định mục tiêu cho Tập đoàn cũng như các đơn vị thành viên trong tương lai.

 

Kiểm soát tài chính đảm bảo cho Tập đoàn sử dụng vốn một cách hiệu quả

Thông qua điều chỉnh, cơ cấu lại khoản vốn tồn đọng bằng cách rút bớt những khoản vốn không hiệu quả để tập trung vào những khoản vốn mang lại hiệu quả theo các cách thức cơ bản là tập trung vốn cho các thành viên có khả năng, phát triển tốt, hỗ trợ cho một số DN chủ chốt trong tập đoàn qua đó vốn được sử dụng hiệu quả hơn. Đồng thời, với sự kiểm soát của nhiều chủ thể kiểm soát trong tập đoàn kinh tế đòi hỏi phải có sự công khai, minh bạch các thông tin về quá trình điều chuyển và sử dụng vốn trong tập đoàn, tập trung được trình độ quản lý và phương thức quản lý kinh doanh từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng của vốn trong tập đoàn.

 

Kiểm soát tài chính giúp công ty mẹ của Tập đoàn nắm bắt được chính xác, toàn diện về tình hình tài chính để điều hành và giám sát các mặt hoạt động SXKD của Tập đoàn, đảm bảo sự hoạt động của các thành viên trong tập đoàn đúng theo định hướng, chiến lược phát triển chung và thực hiện được các mục tiêu của tập đoàn

 

Tập đoàn bao gồm tổ hợp các DN hoạt động kinh doanh đa ngành nghề trên nhiều lĩnh vực, bên cạnh đó tập đoàn kinh tế là tập hợp các pháp nhân độc lập với cấu trúc và mức độ sở hữu đa dạng nên hoạt động quản lý và điều hành không thể bằng các mệnh lệnh, chỉ thị mang tính hành chính mà phải quản lý thông qua các chính sách và cơ chế quản lý để tác động tới hoạt động cụ thể của từng thành viên vừa tạo ra sự độc lập, tự chủ của các thành viên nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu, chính sách chung của tập đoàn. Để thực hiện được điều này thì kiểm soát tài chính được sử dụng như một công cụ điều hành trong tập đoàn kinh tế thông qua việc công ty mẹ (holding company) thực hiện quyền kiểm soát đối với các công ty con. Như vậy là  kiểm soát tài chính giúp công ty mẹ điều hành các công ty con hoạt động  hiệu quả xung quanh một trục quỹ đạo là mục tiêu phát triển chung của tập đoàn. Đồng thời, kiểm soát tài chính phát hiện kịp thời những tồn tại trong kinh doanh của tập đoàn để giúp công ty mẹ nhanh chóng đưa ra các quyết định điều chỉnh hoạt động phù hợp với yêu cầu thị trường, phát hiện và khai thác triệt để các tiềm năng của các công ty con, đưa ra các quyết định tài chính đúng đắn, đạt hiệu quả cao.

 

Tuy nhiên, trong các tập đoàn kinh tế Việt Nam hiện nay, hầu như kiểm soát tài chính chưa được coi trọng. Đặc biệt là trong một số tập đoàn, kiểm soát tài chính và thực hiện các hoạt động tài chính đều do cùng 1 đơn vị thực hiện. Do vậy, với những đặc trưng của các Tập đoàn kinh tế Việt Nam, để thực hiện kiểm soát tài chính một cách hiệu quả trên cơ sở mối quan hệ về đầu tư vốn giữa công ty mẹ và các công ty con cần lưu ý một số giải pháp có tính định hướng sau:

 

Một là, cần tiếp tục đổi mới, sắp xếp DN, đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa DN thành viên và trực thuộc đơn vị thành viên.

 

Để thực hiện kiếm soát tài chính một cách hiệu quả thì một trong những giải pháp quan trọng là các Tập đoàn kinh tế Việt Nam cần đẩy nhanh tiến trình thực hiện cổ phần hóa (CPH), đa dạng hóa sở hữu. Sở dĩ như vậy vì CPH sẽ tách bạch quyền sở hữu và quyền điều hành quản lý DN, hoạt động của DN sẽ được giám sát bởi các cổ đông. Sau CPH, giám đốc là người điều hành DN và biết rõ mục tiêu của các chủ sở hữu (cổ đông) là gia tăng giá trị tài sản của mình. Nếu cổ đông không hài lòng với hoạt động của công ty họ sẽ bán cổ phiếu và rút vốn đầu tư nơi khác. Điều này đòi hỏi giám đốc và DN cần nỗ lực và tập trung vào việc tạo ra giá trị cho cổ đông, nhằm làm cho cổ đông hài lòng vì thấy mục tiêu của họ được thực hiện. Thực tế cho thấy, các DN trong các tập đoàn kinh tế sau khi CPH đều hoạt động hiệu quả hơn với sự tham gia giám sát của đội ngũ đông đảo cổ đông, các thông tin minh về tình hình hoạt động, tình hình tài chính, kết quả hoạt động của đơn vị được minh bạch hơn.

 

Bảng 1: Kết quả hoạt động SXKD của các đơn vị thuộc Tập đoàn Bưu chính viễn thông sau khi thực hiện CPH

Đơn vị: Tỷ đồng

 

Chỉ tiêu

Trước khi thực hiện CPH

Sau khi
thực hiện CPH

So sánh

mức độ tăng

Doanh thu

2.427

5.331

220%

Nộp NSNN

200

364

182%

Lợi nhuận sau thuế

158

252

159%

(Nguồn: Cục Tài chính DN - Báo cáo tình hình SXKD, tài chính của VNPT)

 

Hai là, cần xây dựng hệ thống kiểm soát tài chính hiệu quả trong các Tập đoàn

Hệ thống kiểm soát tài chính là một trong những yếu tố quan trọng của hệ thống quản lý hiện đại và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hệ thống quản lý nói chung và quản lý tài chính nói riêng trong tập đoàn kinh tế. Đối với các tập đoàn kinh tế Việt Nam hiện nay, hệ thống kiểm soát tài chính vẫn chưa được xây dựng một cách hệ thống, chức năng kiểm soát tài chính còn chồng chéo. Do đó, hệ thống kiểm soát tài chính cần được kiện toàn và hoàn thiện như sau:

 

- Ban kiểm soát là đơn vị đại diện cho các chủ sở hữu vốn, thực hiện chức năng kiểm soát đối với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của HĐQT trong việc quản lý và thực hiện các mục tiêu phát triển của tập đoàn. Do đó, đơn vị này cần phải độc lập với HĐQT (trong hầu hết các tập đoàn kinh tế Việt Nam hiện nay, Ban kiểm soát trực thuộc HĐQT).

 

- Cần tách bạch chức năng thực hiện các hoạt động tài chính và chức năng kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính để nhanh chóng hạn chế tồn tại trong một số tập đoàn hiện nay là Ban kế toán tài chính là đơn vị chức năng nhưng lại vừa là đơn vị thực hiện các hoạt động tài chính, vừa thực hiện chức năng kiểm soát các hoạt động tài chính do đó chức năng kiểm soát hầu như không có hiệu quả.

 

- Hệ thống kiểm soát tài chính trong các tập đoàn kinh tế bao gồm: kiểm soát của chủ sở hữu đối với giám đốc điều hành, kiểm soát của giám đốc điều hành đối với toàn bộ hoạt động trong phạm vi được quản lý. Có thể thực hiện theo hệ thống sau:

 

+ Kiểm soát của chủ sở hữu đối với người quản lý tập đoàn (corporate governance) và kiểm soát của người quản lý tập đoàn đối với toàn bộ hoạt động trong phạm vi mình quản lý (internal control). Ở tầng thứ nhất, đại hội cổ đông, cơ quan quyền lực cao nhất sẽ lập và bầu ra Ủy ban kiểm soát tập đoàn. Ủy ban kiểm soát này có nhiệm vụ kiểm soát tất cả những hoạt động của HĐQT. Nếu phát hiện HĐQT có hành vi sai trái, Ủy ban này sẽ báo cáo đại hội cổ đông để cơ quan này xử lý, kể cả cách chức, miễn nhiệm HĐQT;

+ Đồng thời, HĐQT cũng lập ra một Ban kiểm soát để giám sát hoạt động của Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, trong đó có hai hoạt động quan trọng là hoạt động tài chính và việc thực thi chiến lược, nghị quyết của HĐQT…

+ Ở tầng kiểm soát tiếp theo, để giám sát hoạt động của cấp dưới, Tổng giám đốc cũng lập ra một bộ phận kiểm soát nội bộ. Bộ phận này thay mặt Tổng giám đốc có thể kiểm soát các hoạt động tài chính của tập đoàn

 

Ba là, cần xây dựng được một quy trình kiểm soát tài chính trong tập đoàn mà trước hết cần thiết lập mục tiêu kiểm soát tài chính của tập đoàn theo đó mục tiêu  kiểm soát là những mốc mà các hoạt động tài chính của tập đoàn cần đạt được. Các mục tiêu này thường là các chỉ tiêu phản ánh về mặt định tính hay định lượng. Tuy nhiên cần cố gắng lượng hóa các tiêu chuẩn. Các tiêu chuẩn định lượng như tổng doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư,... Đồng thời, cần thiết lập được các hệ thống giám sát, đánh giá hoạt động tài chính cũng như dự báo và kiểm soát được rủi ro các hoạt động tài chính để có các biện pháp ứng phó linh hoạt.

 

Quy trình kiểm soát tài chính cần chỉ rõ đơn vị đầu mối thực hiện kiểm soát tài chính cũng như các đơn vị, tổ chức tham gia phối hợp kiểm soát tài chính trong tập đoàn kinh tế. Đồng thời, quy trình cũng cần nêu rõ trách nhiệm của từng chủ thể thực hiện kiểm soát trong tập đoàn. Cần lưu ý rằng kiểm soát tài chính là kiểm soát sự luân chuyển và sự sinh sôi đồng vốn, hay nói cách khác là tính hiệu quả của vốn đầu tư vào công ty con chứ không phải kiểm soát công việc của giám đốc các công ty con.

 

Thứ tư là cần dự báo và kiểm soát được rủi ro tài chính

Rủi ro tài chính là một trạng thái biểu hiện nguy cơ bất ổn xảy ra trong hoạt động đầu tư dẫn đến hiệu quả đầu tư không đạt được mức như mục tiêu dự kiến khiến cho chủ thể đầu tư lâm vào trạng thái bất lợi trong kinh doanh như thua lỗ, nợ nần thậm chí phá sản,.. và gây ảnh hưởng đến hoạt động tài chính. Nguy cơ rủi ro tài chính đã thực sự chứa đựng trong từng lĩnh vực hoạt động kinh doanh, đặc biệt là các hoạt động tài chính và là những mầm mống, sẵn sàng châm ngòi cho những ngọn “núi lửa” khủng hoảng tài chính và khủng hoảng kinh tế đối với các tập đoàn kinh tế bất cứ lúc nào. Đặc biệt hiện nay, trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì mức độ rủi ro tài chính ngày càng tăng thêm cùng với sự phát triển của thị trường tài chính. Do đó, kiểm soát rủi ro tài chính được coi là một nội dung quan trọng và không thể thiếu của nội dung kiểm soát tài chính trong tập đoàn kinh tế. Tùy từng lĩnh vực của hoạt động tài chính mà kiểm soát rủi ro tài chính bao gồm các nội dung tương ứng.

 

Đặc biệt, hoạt động kiểm soát muốn đạt hiệu quả, người được giao trọng trách kiểm soát phải hội tụ được một số phẩm chất quan trọng. Thứ nhất, phải am hiểu ngành, nghề. Ví dụ, kiểm soát tuân thủ thì phải am hiểu về luật lệ; kiểm soát về tài chính thì phải có chuyên môn kế toán - tài chính hoặc công ty hoạt động về dầu khí thì phải có kiến thức về lĩnh vực dầu khí… Thứ hai, phải có tính hoài nghi nghề nghiệp, phát hiện ra sai sót. Thứ ba, phải khách quan (tôn trọng sự thật). Muốn khách quan thì cần phải độc lập (về kinh tế, quan hệ, công việc…).

 

KẾT LUẬN

Như vậy, cùng với sự phát triển kinh tế, các tập đoàn kinh tế Việt Nam đã được hình thành với những đặc trưng rất cơ bản. Các tập đoàn kinh tế này đã góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây có thể coi là “tay chèo” chủ lực của con tàu kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, với lịch sử phát triển hàng trăm năm trên thế giới nhưng đối với Việt Nam, tập đoàn kinh tế vẫn còn là mô hình kinh tế khá mới mẻ. Vì vậy, để các tập đoàn kinh tế này có thể ổn định và phát triển, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi tình hình kinh tế thế giới, khu vực và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp thì vấn đề kiểm soát tài chính trong các tập đoàn kinh tế cần được đặc biệt quan tâm. Một số biện pháp để giúp các tập đoàn kinh tế có thể thực hiện kiểm soát tài chính một cách hiệu quả đã trình bày ở trên có thể là những gợi ý để các tập đoàn kinh tế Việt Nam tùy theo đặc thù và lĩnh vực hoạt động của mình có thể vận dụng được. Hy vọng rằng các tập đoàn kinh tế Việt Nam với những đặc trưng và sự thay đổi về quản lý, hoạt động và điều hành thông qua thực hiện kiểm soát tài chính sẽ sớm hoàn thiện, nhanh chóng ổn định và vận hành theo mô hình mới, tạo nên “những quả đấm thép” đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Trần Tiến Cường, Tập đoàn kinh tế- Lý luận và kinh nghiệm quốc tế ứng dụng vào Việt Nam, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội, 2005

[2]. Baoli Xu và Minggao Shen (2004), Phát triển tập đoàn doanh nghiệp, Phần 3 trong chính sách phát triển kinh tế - Kinh nghiệm của Trung Quốc, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội, 2004

[3]. Cục Tài chính doanh nghiệp, Báo cáo tình hình SXKD của các Tập đoàn kinh tế Nhà nước năm 2006, 2007.

[4]. TS. Đỗ Đức Minh, Viện nghiên cứu tài chính, Rủi ro tài chính và giải pháp phòng ngừa trong phát triển kinh tế và hội nhập tài chính, Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 285


 

Email bài này | Liên hệ | In bài này  
Các bài mới:
     Sự phát triển của điện thoại di động và chính sách dỊch vụ phổ cập trong thế kỷ 21 (05/03)
     Ảnh hưởng của cạnh tranh đến việc cung cấp dịch vụ viễn thông công ích (05/02)
     Kích cầu và dịch vụ Viễn thông công ích (14/01)
Các bài đã đăng:
     “Kết nối đam mê” tại Bắc Ninh (26/06)
     Hội nghị web - Nguồn doanh thu mới cho các nhà khai thác viễn thông (25/06)
     Dịch vụ được quản lý – Xu hướng mới trong ngành Viễn thông (25/05)
     LÀM GÌ ĐỂ VƯỢT QUA SUY THOÁI (22/05)
     Thêm những danh hiệu khẳng định thương hiệu của CMS (22/05)
     Say2Send – Dịch vụ tin nhắn thoại mới từ VinaPhone (19/05)
     Những cách thức kinh doanh mới (11/05)

Các tin khác 

 

 
Ý kiến của bạn
Tên của bạn:
Email:
Tiêu đề:
Tắt bộ gõ Tự động Telex VNI VIQR

© Bản quyền thuộc Tạp chí Công nghệ thông tin & Truyền thông
Địa chỉ: 95E, Lý Nam Đế, Hà Nội.  Điện thoại: (04)37737136.   Fax: (04)37737130.   Email: tapchibcvt@mic.gov.vn
Cơ quan chủ quản: Bộ Thông tin và Truyền thông. Phó Tổng biên tập phụ trách: Vũ Chí Kiên
Giấp phép số 131/GP-TTĐT do Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và trang tin điện tử cấp ngày 7/10/2009.